Bên cạnh vàng, một thứ "nhà nào cũng mua" tăng vọt dịp cận Tết
Admin
10/02/2026 13:00
Các mặt hàng phục vụ nhu cầu Tết tăng giá thúc đẩy CPI tháng 1/2026 tăng nhẹ 0,05%. Trong đó thịt lợn tăng tới 3,7%.
9/11 nhóm hàng tăng giá
Theo số liệu mới công bố của Cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 1/2026 tăng 0,05% so với tháng trước, chủ yếu do giá thực phẩm, ăn uống ngoài gia đình và vật liệu sửa chữa nhà ở tăng trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ gia tăng. So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng Một tăng 2,53%, trong khi lạm phát cơ bản tăng 3,19%.
Trong mức tăng CPI tháng Một, có 9/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ ghi nhận chỉ số giá tăng, trong khi 2 nhóm giảm giá.
Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,70%, tác động làm CPI chung tăng 0,16 điểm phần trăm – mức ảnh hưởng lớn nhất trong các nhóm. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu sửa chữa, sơn sửa nhà cửa cuối năm tăng cao. Trong khi giá vật liệu, dịch vụ bảo dưỡng và dịch vụ khác liên quan đến nhà ở đều tăng. Giá gas tăng mạnh 4,29% theo diễn biến giá
Số liệu từ Cục Thống kê cho thấy, trong tháng Một, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,20%, làm CPI chung tăng 0,07 điểm phần trăm. Trong đó, lương thực tăng 0,29%, thực phẩm tăng 0,09%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,44%.
Đáng chú ý, chỉ số giá thịt lợn tăng 3,76%, cùng với thịt gia cầm tăng 0,40%, thủy sản tươi sống tăng 0,49%. Giá bánh, mứt, kẹo tăng, trong khi giá rau tươi, khô và chế biến giảm mạnh 10,28%, trứng giảm 0,84%.
Ở chiều ngược lại, nhóm giao thông giảm 2,32%, làm CPI chung giảm 0,23 điểm phần trăm. Nguyên nhân chủ yếu do giá xăng, dầu giảm. Tuy nhiên, nhu cầu đi lại tăng cao dịp cuối năm khiến giá vé máy bay tăng mạnh 15,18%, vận tải đường sắt tăng 4,94%.
Nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,15%, chủ yếu do giá điện thoại thông minh, máy tính bảng và phụ kiện tiếp tục điều chỉnh giảm.
Lạm phát cơ bản tháng 1/2026 tăng 0,35% so với tháng trước và tăng 3,19% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng của CPI chung. Nguyên nhân do các yếu tố làm giảm CPI như giá lương thực, năng lượng đã được loại trừ khỏi rổ tính lạm phát cơ bản.
Giá vàng tăng mạnh, USD giảm nhẹ
Cũng theo số liệu từ Cục Thống kê, giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 29/01/2026, giá vàng thế giới bình quân ở mức 4.733,31 USD/ounce, tăng 8,65% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu do dòng vốn đầu tư vào vàng gia tăng, cùng với hoạt động mua ròng liên tục của các Ngân hàng Trung ương.
Bên cạnh đó, đồng đô la Mỹ suy yếu trong bối cảnh kỳ vọng nới lỏng chính sách tiền tệ cùng với nhu cầu nắm giữ các tài sản thực của nhà đầu tư tăng lên trước những căng thẳng địa chính trị và bất ổn toàn cầu, qua đó tiếp tục củng cố vai trò trú ẩn an toàn của vàng làm giá vàng tăng mạnh.
Trong nước, giá vàng bám sát xu hướng thế giới, đồng thời nhu cầu tích trữ và đầu tư tăng lên trong bối cảnh các kênh đầu tư thay thế chưa ổn định, giúp mặt bằng giá vàng duy trì ở mức cao. Chỉ số giá vàng tháng Một tăng 5,02% so với tháng trước; tăng 77,1% so với cùng kỳ năm trước.
Cục Thống kê cho biết, tính đến ngày 29/01/2026, chỉ số giá đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 98,1 điểm, giảm 0,21% so với tháng trước chủ yếu do kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ điều chỉnh theo hướng nới lỏng chính sách tiền tệ trong năm 2026, làm giảm sức hấp dẫn của các tài sản định giá bằng USD.
Bên cạnh đó, lợi suất trái phiếu Mỹ có xu hướng hạ nhiệt, dòng vốn đầu tư dịch chuyển sang các thị trường và đồng tiền khác, trong khi một số đồng tiền chủ chốt như Euro và Yên Nhật phục hồi tương đối. Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng Một giảm 0,29% so với tháng trước; tăng 3,18% so với cùng kỳ năm trước.
Sự bứt phá của các dòng xe SUV, MPV cùng bước tiến mạnh mẽ của công nghệ hybrid đã giúp doanh số Toyota Việt Nam trong tháng 3/2026 tăng trưởng gấp đôi so với tháng trước.
Danh mục tài sản Ngân hàng SCB ra thông báo mời thầu lần 2 để đấu giá gồm quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, phương tiện vận tải, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh, hàng hóa tiêu dùng và kho bãi, hơn 8.500 sản phẩm thời trang (quần áo, túi xách, phụ kiện...) và hơn 370.859 chi tiết hàng tồn kho khác.
Đến năm 2045, tỷ lệ đô thị hoá ở Việt Nam thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á. Việt Nam xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế.