Tổng giám đốc lương 95 triệu/tháng bị miễn nhiệm sau 2,5 tháng
Ngày 16/12/2024, Hội đồng quản trị (HĐQT) Công ty T. họp và ban hành nghị quyết bổ nhiệm ông Nguyễn Huy C. (TPHCM) giữ chức Tổng giám đốc Công ty T. Đây là căn cứ để hai bên giao kết hợp đồng lao động.
Cụ thể, ông C. ký hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần T. ngày 16/12/2024, giữ chức vụ Tổng giám đốc trong thời hạn 5 năm, từ ngày ký đến hết 15/12/2029. Mức lương theo hợp đồng là 95 triệu đồng/tháng.
Tuy nhiên, ngày 1/3/2025, HĐQT công ty ban hành nghị quyết và quyết định miễn nhiệm chức vụ tổng giám đốc đối với ông C., với lý do “nhận nhiệm vụ mới”. Cùng ngày, công ty bổ nhiệm người khác thay thế ông.
Không đồng tình với việc bị miễn nhiệm mà chưa được bố trí công việc phù hợp, ông C. nhiều lần đề nghị công ty sắp xếp vị trí tương đương.
Tuy nhiên, tại cuộc họp ngày 9/4/2025, công ty đưa ra một số phương án như trưởng phòng kỹ thuật tại các nhà máy, chuyên viên kế toán, chuyên viên nhân sự và chuyên viên mua hàng. Ông C. không đồng ý với một số vị trí được đề xuất, đồng thời đề nghị được làm phó tổng giám đốc.
Bị miễn nhiệm sau 2,5 tháng, cựu tổng giám đốc lương 95 triệu/tháng đòi tiền tỷ nhưng không được tòa chấp nhận. Ảnh minh họa: Nam Khánh
Ngày 17/4/2025, ông C. tiếp tục gửi email đề nghị được làm việc ở vị trí phó tổng giám đốc hoặc vị trí tương đương. Trường hợp công ty không thể bố trí công việc theo nguyện vọng, ông đề nghị xem xét phương án thanh lý hợp đồng lao động để bảo đảm quyền lợi của hai bên.
Đến cuộc họp ngày 2/6/2025, công ty cho biết không còn vị trí phó tổng giám đốc hoặc vị trí tương đương trong sơ đồ tổ chức. Phía công ty cũng cho rằng đã đề xuất những công việc còn trống nhưng ông C. không chấp nhận, khiến hai bên không thống nhất được vị trí làm việc mới.
Ngày 24/7/2025, ông C. nhận được thông báo của Tổng giám đốc công ty về việc chấm dứt hợp đồng lao động kể từ ngày 31/7/2025, với lý do ông đã hoàn thành công việc theo hợp đồng. Sau đó, công ty ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng.
Không đồng ý với quyết định này, ông C. cho rằng công ty đã đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, bởi hợp đồng 5 năm vẫn còn hiệu lực, việc bố trí công việc mới chưa được thống nhất và ông chỉ được thông báo trước 7 ngày.
Ông C. khởi kiện, yêu cầu tòa tuyên quyết định chấm dứt hợp đồng lao động của công ty trái pháp luật, buộc doanh nghiệp nhận ông trở lại làm việc.
Ngoài ra, ông yêu cầu công ty trả 570 triệu đồng tiền lương trong thời gian không được làm việc, tính tạm đến ngày 4/3/2026; trả thêm 190 triệu đồng tương đương 2 tháng lương; truy đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định.
Ông C. còn yêu cầu công ty thanh toán gần 488 triệu đồng tiền lương tương ứng với 113 ngày không báo trước.
Trường hợp doanh nghiệp không muốn nhận ông trở lại làm việc, ông yêu cầu thanh toán số tiền lương còn lại của hợp đồng đến hết ngày 15/12/2029, tương đương gần 4,8 tỷ đồng.
Hai cấp tòa đều bác các yêu cầu khởi kiện
Tại phiên tòa, Công ty Cổ phần T. không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện. Doanh nghiệp cho rằng hợp đồng lao động gắn liền với chức danh tổng giám đốc, việc miễn nhiệm thuộc thẩm quyền của HĐQT. Sau khi ông C. không còn giữ chức vụ này, công ty xác định ông đã hoàn thành công việc, thuộc trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động theo khoản 2 Điều 34 Bộ luật Lao động năm 2019.
Công ty cũng cho rằng việc miễn nhiệm chức danh tổng giám đốc thuộc thẩm quyền của HĐQT và các quyết định đã được ban hành đúng thẩm quyền, trình tự, quy định pháp luật và điều lệ công ty. Sau khi bị miễn nhiệm, ông C. không khiếu nại, phản đối các quyết định của HĐQT.
Doanh nghiệp cho hay ngày 17/4/2025, trong văn bản phản hồi gửi công ty, ông C. có nêu rằng trong trường hợp công ty không thể bố trí công việc theo nguyện vọng hoặc không muốn tiếp tục hợp tác, thì có thể xem xét phương án thanh lý hợp đồng lao động.
Xét xử sơ thẩm ngày 4/3/2026, TAND khu vực 1, TPHCM không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông C.
Ông C. tiếp tục kháng cáo, đề nghị tòa phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm và buộc công ty nhận trở lại làm việc.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 11/6/2026, HĐXX nhận định, hợp đồng lao động giữa hai bên được giao kết tự nguyện, có hiệu lực pháp luật. HĐQT công ty có thẩm quyền miễn nhiệm chức vụ tổng giám đốc theo điều lệ của doanh nghiệp.
Tòa cũng xem xét việc sau khi bị miễn nhiệm, ông C. đã tham gia các cuộc họp trao đổi về công việc mới và đề nghị công ty bố trí vị trí khác hoặc thanh lý hợp đồng nếu không tìm được công việc phù hợp. Hai bên không có thỏa thuận buộc công ty phải bố trí công việc mới cho ông C. trong trường hợp ông bị miễn nhiệm chức tổng giám đốc.
Theo HĐXX, việc công ty chấm dứt hợp đồng lao động với lý do ông C. đã hoàn thành công việc theo hợp đồng thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 34 Bộ luật Lao động năm 2019. Do đó, công ty không phải thực hiện thời hạn báo trước 120 ngày như yêu cầu của nguyên đơn.
Theo tòa, sau khi miễn nhiệm chức danh tổng giám đốc của ông C., công ty cũng đã đề xuất một số vị trí công việc mới để tạo điều kiện cho ông được tiếp tục làm việc như Trưởng phòng Kỹ thuật của Nhà máy Đ., Trưởng phòng Kỹ thuật của Nhà máy B2.; ông C. đề nghị được làm việc tại TPHCM nên công ty có đề xuất vị trí chuyên viên mua hàng tại văn phòng... là các vị trí theo nhu cầu của công ty đang cần nhân sự, nhưng ông C. đều không đồng ý.
Do đó, TAND TPHCM không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các yêu cầu của ông C. về việc tuyên quyết định chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, nhận trở lại làm việc và thanh toán các khoản tiền đều không được chấp nhận.
(Bài viết dựa trên Bản án số 110/2026/LĐ-PT ngày 11/6/2026 của TAND TPHCM)