Những phận người mưu sinh là một phần không thể tách rời của đời sống đô thị, đồng thời đặt ra yêu cầu về một mạng lưới an sinh xã hội rộng và bền vững hơn.
Phía sau phận người mưu sinh chờ Tết
Một trong những “chợ người” như thế nằm vòng xuyến dưới gầm cầu vượt dốc Bưởi (Hà Nội). Gần 10 giờ sáng giữa tháng Chạp, gió lùa hun hút mang theo cái rét tê tái cùng mùi khói xe nồng nặc, nhóm gần 20 lao động tự do, chủ yếu là đàn ông đứng rải rác dưới gầm cầu. Người khoanh tay co ro trong chiếc áo cũ kỹ, người đi đi lại lại vì sốt ruột. Một nhóm chụm đầu bên bàn cờ “giết” thời gian.
Chợ họp từ sáng sớm, nhưng đến gần trưa vẫn thưa vắng khách thuê. Chiếc xe máy bỗng tấp vào, cả nhóm lao động ào ra. Những câu hỏi dồn dập: “Làm gì đấy anh?”, “Bao lâu?”, “Tiền công bao nhiêu?”. Tiếng người xôn xao, những cánh tay giơ lên. Chỉ trong chốc lát, hai thanh niên trẻ được chọn, vội vã leo lên xe đi bốc vác chuyển nhà. Những người còn lại lặng lẽ quay về chỗ đứng cũ, tiếp tục chờ đợi trong im lặng.
Nhóm lao động tự do tại gầm cầu vượt dốc Bưởi, Hà Nội ào ra khi có người đến thuê mướn. Ảnh: LƯU TRINH
Anh C.V.Đ (32 tuổi) dáng người gầy gò, khuôn mặt hằn rõ vẻ khắc khổ. Anh vừa bắt xe từ xã Bình Minh (Nghệ An) ra Hà Nội lúc 2 giờ sáng. Ngả lưng được một lát, hơn 6 giờ anh đã hòa vào “phiên chợ đặc biệt”, nhưng mấy tiếng đồng hồ trôi qua vẫn chưa ai hỏi đến.
“Tôi từng đi xuất khẩu lao động, nhưng công việc không như mong đợi. Đầu năm 2025 về nước, rồi vào TPHCM làm công nhân, cuối năm công ty hết việc, tôi thất nghiệp,” anh Đ. kể. Trở về quê được vài ngày, nghe lời rủ của người cùng xã, anh lại bắt xe ra Hà Nội mưu sinh dịp cận Tết.
“Ở đây có mấy anh em đồng hương đi lâu năm, họ chỉ cho tôi cách làm. Ai cũng nói công việc bấp bênh, có ngày làm không kịp, nhưng cũng có khi ngồi chơi mấy ngày chẳng ai thuê. Tuy vất vả nhưng cũng kiếm được đồng ra đồng vào, khéo chi tiêu thì tiết kiệm được một ít gửi về gia đình” anh kể.
Tết đã cận kề, điều anh mong mỏi là ngày nào cũng có việc, đủ tiền trả trọ, sinh hoạt phí, và có chút dư mang về quê tiêu Tết. “Nợ tiền đi xuất khẩu lao động nước ngoài chưa trả hết, giờ công việc bấp bênh, tôi thực sự bất an”, anh cười buồn. Anh vẫn mơ gom được một khoản đủ để lập gia đình trong tương lai gần.
Cách đó không xa, anh N.V.K (49 tuổi) cũng quê xã Bình Minh (Nghệ An), là một trong những người “bám trụ” lâu nhất ở khu vực này. Suốt ngày bám ở mặt đường, với đủ gió bụi, khói xăng xe, trông anh già hơn cả chục tuổi.
Hơn 20 năm mưu sinh ở Hà Nội bằng nghề lao động tự do, khi được hỏi, anh phải dừng lại nhẩm tính rồi mới nhớ ra: “Năm 2001, vợ sinh đứa con gái đầu lòng, làm ruộng vườn thiếu thốn quá, tôi khăn gói ra Thủ đô”.
Ngày ấy, chưa có gầm cầu vượt, anh K. thường ngồi dưới gốc cây xà cừ, hoặc ở quán trà đá ven đường, ai thuê gì làm nấy. Bốc vác, vận chuyển hàng hóa, phụ hồ, dọn nhà… việc gì anh cũng nhận. Những lúc không có người thuê, anh lại chạy xe ôm. Gắn bó lâu năm, nhiều khách quen mặt lấy số điện thoại chủ động gọi tới thuê mướn khi cần.
“Công việc năm nay khác hẳn. Mọi năm tầm này làm không hết việc, còn giờ ế ẩm lắm. Tình hình này, chắc tôi làm đến tối 28 tháng Chạp để tranh thủ mấy ngày cận Tết chở đào, quất, hy vọng kiếm thêm chút tiền về quê”, anh chia sẻ.
Anh K. lặng lẽ mở chiếc điện thoại đã sờn góc. Đôi bàn tay chai sạn vì năm tháng bốc vác chậm rãi lướt trên màn hình, dừng lại ở những tấm ảnh gia đình.
Ánh mắt người đàn ông gần nửa đời bám vỉa hè chợt rưng rưng khi khoe đứa con trai đang học năm cuối Trường Đại học Ngoại thương. Đó là cậu con trai thứ hai, sinh năm 2004 lớn lên trong những tháng ngày bố tha phương mưu sinh, mẹ tảo tần sớm hôm, nhưng luôn tự giác học hành và biết sẻ chia với cha mẹ.
“Nhờ con ngoan, học giỏi nên tôi mới yên tâm bám trụ ngoài này suốt mấy chục năm”, anh nói.
Chờ chính sách an sinh bền vững
Trong vai người cần thuê lao động dọn nhà, phóng viên tìm đến một bến xe buýt trên đường Ngọc Hồi, Thanh Trì, Hà Nội - nơi từ lâu đã trở thành điểm tập kết quen thuộc của lao động tự do. Ngay cạnh bến xe là một quán trà đá vỉa hè.
Vài chiếc sofa cũ vô chủ, được kê tạm sát lề đường làm chỗ nghỉ chân cho những người lao động chờ việc. Họ ngồi đó, có người ngả lưng, có người lặng lẽ nhìn dòng xe cộ qua lại, chờ một cuộc gọi ngắn ngủi có thể quyết định thu nhập của cả ngày.
Gương mặt sạm đen vì nắng gió và năm tháng lao động nặng nhọc, ông N.T.H cho biết nơi đây thường có khoảng 5-7 người tụ tập. Họ đã gắn bó với “bến chờ việc” này từ 5-7 năm, không hợp đồng, không bảo hiểm, cũng chẳng có lịch làm việc cố định. Ngày có người thuê thì làm, ngày vắng việc lại tản ra mỗi người một ngả, ai có xe máy thì chạy xe ôm, ai quen công trình thì đi bốc vác, phụ hồ.
Theo ông H, dịp cuối năm là thời điểm dễ thở hơn so với những tháng khác. Người thuê thường cần dọn nhà, khuân đồ, bốc vật dụng cũ. Lao động nam còn được các cai thầu xây dựng quanh khu vực gọi đi mang vật liệu. Thu nhập được trả theo khối lượng công việc, có công việc chỉ 200.000 đồng/người, có việc lên đến 400.000-500.000 đồng. Nhưng đổi lại là cường độ lao động nặng nhọc, đòi hỏi sức khỏe tốt.
Mỗi người một vẻ ngóng trông người đến thuê mướn. Ảnh: LƯU TRINH
“Không có sức là không trụ nổi”, ông nói. Bởi vậy, những người bám trụ với công việc này phần lớn là thanh niên, hoặc cùng lắm đến khoảng 50 tuổi.
Nhóm lao động ở bến xe buýt Ngọc Hồi có chung xuất thân từ các huyện miền biển tỉnh Nam Định (cũ). Mỗi người một cảnh đời, nhưng đều chung một điểm: ruộng đồng quê nhà không đủ để nuôi sống gia đình. Cuộc sống ở quê của ông H. chỉ trông vào vài sào ruộng, thu nhập bấp bênh. Khi con vào đại học, chi phí học hành trở thành gánh nặng, buộc ông phải ra Hà Nội tìm việc. “Ở đây, dù vất vả nhưng ngày nào làm ngày đó có tiền”, ông nói.
“Bao năm bám đường làm thuê mướn, tài sản lớn nhất của tôi là nuôi được con cái ăn học đàng hoàng. Hạnh phúc hơn nữa khi con trai thứ 2 rất chăm ngoan, hiếu thuận. Thấu hiểu nỗi vất vả của bố, con vừa học đại học, vừa tranh thủ chạy xe ôm để tự trang trải sinh hoạt phí. Giữa đô thị phồn hoa này, hai bố con dựa vào nhau mà sống, thắp sáng ước mơ của con. Với tôi, đó là động lực, nguồn sức mạnh vô bờ để vượt qua những vất vả nhọc nhằn mưu sinh nơi phố thị”.Anh N.V. K (xã Bình Minh, Nghệ An)
Vợ ông ở quê làm ruộng, trông coi nhà cửa. Mỗi vụ cấy, vụ gặt, ông lại thu xếp về phụ giúp rồi tiếp tục vòng quay mưu sinh nơi phố thị. Cuộc sống của ông cũng như nhiều lao động tự do khác, bị chia cắt giữa hai không gian: một bên là làng quê với gia đình, một bên là thành phố với công việc nặng nhọc và tạm bợ.
Năm nay, ông H. dự đoán Tết sẽ “ấm” hơn năm trước, bởi thời gian qua khu vực Thanh Trì nhiều gia đình xây, sửa nhà, nhu cầu thuê lao động tăng lên.
Lao động nam bám trụ tại các “chợ người”, thì cánh lao động nữ có lựa chọn giúp việc theo giờ. Sau một cuộc gọi, khoảng 30 phút sau, bà N.T.L có mặt. Người phụ nữ ngoài 50 tuổi, nhanh nhẹn, vừa đến đã bắt tay vào lau dọn bàn ghế. Quê ở huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định (cũ), bà L. lên Hà Nội từ trước khi con gái vào đại học, đến nay đã 11 năm.
Ngoài lau dọn nhà theo giờ với mức 40.000 đồng/giờ, bà còn tranh thủ thu mua phế liệu để tăng thu nhập. Gần Tết, công việc dày hơn, nhưng cũng nhiều áp lực hơn. “Có ngày làm từ sáng đến tối vẫn không hết việc”, bà nói. Dịp này, các gia đình dọn nhà, bỏ đi nhiều đồ không dùng đến, có khi cho luôn bà mang về bán, trở thành nguồn thu nhập phụ.
“Chúng tôi nhận làm bất cứ việc gì cần lao động chân tay”, bà L. chia sẻ. Ở quê bà, rất nhiều người rời làng ra thành phố làm thợ xây, phụ hồ, giúp việc. Nhờ những công việc nặng nhọc ấy, con cái được đi học, nhiều gia đình xây được nhà cửa khang trang. Nhưng đằng sau đó là sự bấp bênh thường trực. Lao động tự do như bà không có hợp đồng, không bảo hiểm xã hội, không bảo hiểm y tế, thu nhập phụ thuộc hoàn toàn vào sức khỏe và thời tiết. “Ráo mồ hôi là hết tiền”, bà L. nói.
Bà N.T.L vừa tranh thủ làm giúp việc theo giờ vừa thu mua đồng nát. Ảnh: HOA BAN
Những ngày mưa gió, công việc thưa thớt, thu nhập giảm sút, trong khi chi phí sinh hoạt ở thành phố lại không ngừng tăng. Tiền thuê nhà, tiền điện nước, ăn uống… đều “ăn lẹm” vào những ngày lao động trước đó.
Nhà cao cửa rộng ở quê, nhưng phần lớn thời gian bà vẫn phải chen chúc trong những căn phòng trọ chật hẹp nơi thành phố, thuê chung với vài gia đình chỉ để có chỗ ngả lưng mỗi tối.
Bà L. nhẩm tính, chỉ còn khoảng chục ngày nữa là được về quê đón Tết. Bao năm xa nhà, cảm giác mong được trở về mỗi dịp cuối năm vẫn nguyên vẹn. “Nếu còn trẻ, tôi sẽ xin vào khu công nghiệp gần nhà, vừa gần chồng con, vừa có thu nhập ổn định”, bà nói. Trên Hà Nội, dù thu nhập mỗi tháng có thể hơn 10 triệu đồng, nhưng đánh đổi là chi phí cao, an toàn lao động thấp và tương lai nhiều bất trắc.
Theo các chuyên gia lao động, nhóm lao động tự do, lao động phi chính thức đang chiếm tỉ lệ không nhỏ trong cơ cấu lao động đô thị. Họ đóng góp trực tiếp cho hoạt động kinh tế từ xây dựng, dịch vụ đến giúp việc gia đình nhưng lại đứng ngoài lưới an sinh xã hội. Khi còn sức khỏe, họ tự xoay xở nhưng khi ốm đau, tai nạn hoặc về già, rủi ro lập tức hiện hữu.
Những con người lặng lẽ ở bến xe buýt Ngọc Hồi, giữa nhịp sống hối hả của Thủ đô, là lát cắt chân thực về đời sống lao động tự do hôm nay. Khi Tết đến gần, mong ước của họ không chỉ là thêm vài ngày có việc, mà còn là một hệ thống an sinh đủ rộng để những người làm việc bằng đôi tay trần không bị bỏ lại phía sau trong guồng quay phát triển.
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Lan Hương, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội, cho biết, lao động tự do, lao động phi chính thức hiện chiếm tỷ lệ rất lớn, nhưng lại là nhóm khó bao phủ nhất trong hệ thống an sinh xã hội. Do làm việc ngoài khu vực chính thức, theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024, họ chỉ có thể tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, với hai chế độ là hưu trí và tử tuất, thay vì các gói bảo hiểm bắt buộc như người làm công ăn lương. Bảo hiểm y tế hiện chủ yếu thực hiện theo hình thức hộ gia đình, trong khi các chính sách hỗ trợ khác như vay vốn, trợ giúp xã hội vẫn phụ thuộc vào hệ thống quản lý của địa phương. Riêng với lao động di cư, đến nay chưa có chính sách hỗ trợ riêng về nhà ở, các biện pháp mới dừng ở việc vận động chủ nhà trọ không thu giá điện, nước cao hơn quy định của Nhà nước.
Bàn về mạng lưới an sinh xã hội, TS Lan Hương cho rằng, hệ thống bảo hiểm xã hội cần được thiết kế theo hướng đa tầng, nhằm bảo đảm mọi người lao động đều có cơ hội tham gia bình đẳng, thay vì phân tách giữa bảo hiểm bắt buộc và tự nguyện. Tuy nhiên, trên thực tế, lao động tự do chưa mặn mà với bảo hiểm xã hội tự nguyện do thiếu thông tin tuyên truyền, thu nhập bấp bênh, không ổn định. Theo bà Hương, không chỉ Việt Nam mà ở nhiều quốc gia, việc xây dựng chính sách riêng cho lao động tự do, phi chính thức cũng là bài toán khó. Các hỗ trợ hiện nay chủ yếu mang tính xã hội, cộng đồng, hơn là những cơ chế chính sách toàn diện, dài hạn dành riêng cho nhóm lao động này.