
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong một chuyến công tác nước ngoài năm 2026 - Ảnh: NGUYỄN KHÁNH
Từ ngày 20 đến 25-9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ tham dự phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 và có các hoạt động song phương tại Mỹ; sau đó thăm cấp Nhà nước tới Canada theo lời mời của Toàn quyền Louise Arbour.
Đây là mảnh ghép mới nhất trong bức tranh đối ngoại cấp cao của lãnh đạo chủ chốt Việt Nam từ đầu năm đến nay.
Hai vế tại Mỹ
Tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao ngày 17-9, người phát ngôn Phạm Thu Hằng cho biết Tổng Bí thư, Chủ tịch nước sẽ có bài phát biểu quan trọng tại phiên thảo luận chung, tiếp xúc với lãnh đạo các nước, đối tác và tổ chức quốc tế, đồng thời gặp lãnh đạo chính quyền và Quốc hội Mỹ.
Hai vế ấy không tách rời và đều có tính thời sự.
Phiên thảo luận chung khóa 81 lấy trọng tâm khôi phục niềm tin và định hướng chuyển đổi của hệ thống Liên hợp quốc. Đây là lần thứ hai nhà lãnh đạo Việt Nam phát biểu tại tổ chức lớn nhất hành tinh này trên cương vị đứng đầu Đảng và Nhà nước.
Thông điệp sẽ đáng theo dõi, nhất là sau bài nói của ông tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 23 ở Singapore tháng 5 vừa qua.
Điều cần chờ không chỉ là lời khẳng định hòa bình, hợp tác và phát triển, mà còn là Việt Nam đề xuất gì cho một hệ thống đa phương đang chịu sức ép từ xung đột, cạnh tranh nước lớn và sự suy giảm niềm tin.
Việt Nam có cơ sở để cất tiếng nói của một thành viên chủ động. Gần nửa thế kỷ kể từ khi gia nhập Liên hợp quốc năm 1977, nước này đã đi từ vị thế tiếp nhận hỗ trợ sang tham gia kiến tạo chương trình nghị sự, đảm nhiệm nhiều trọng trách và đóng góp vào gìn giữ hòa bình, phát triển bền vững, quyền con người.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu trước Đại hội đồng Liên hợp quốc tháng 9-2024 - Ảnh: LÂM KHÁNH
Nhưng New York chỉ là một nửa câu chuyện tại Mỹ. Các cuộc gặp với chính quyền và Quốc hội Mỹ mới là phần giới phân tích dõi theo sát hơn.
Trên tờ The Diplomat, giáo sư Yves Tiberghien (Đại học British Columbia) nêu một dãy số đáng chú ý: xuất khẩu chung của Việt Nam năm 2025 tăng 17%, trong đó xuất sang Mỹ tăng 28% lên 153 tỉ USD; 7 tháng đầu 2026, Mỹ nhập từ Việt Nam 104,7 tỉ USD, tăng 23% so với cùng kỳ.
Thương mại là điểm sáng, nhưng không nên là thước đo duy nhất của quan hệ Việt - Mỹ trong giai đoạn mới.
Câu hỏi không nên dừng ở kim ngạch tăng bao nhiêu, mà là công nghệ nào được chuyển giao và cùng nghiên cứu, năng lực nào hình thành tại Việt Nam, doanh nghiệp nào tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị,…
Các hoạt động song phương vì thế có hai ý nghĩa. Thứ nhất, giữ các kênh liên lạc tiếp tục mở với chính quyền và Quốc hội Mỹ trong bối cảnh thuế quan, quy định xuất xứ và kiểm soát công nghệ vẫn phủ bóng.
Thứ hai, kiến tạo điều kiện cho những cơ chế xử lý khác biệt, giữ nhịp thương mại và mở thêm không gian hợp tác về bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng, đào tạo nhân lực chất lượng cao và khắc phục hậu quả chiến tranh.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự tọa đàm với các doanh nghiệp hàng đầu Mỹ trong chuyến công tác tháng 9-2024 - Ảnh: DUY LINH
Chuyến thăm lịch sử tới Canada
Ngay sau Mỹ là chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada - hiện là Đối tác toàn diện của Việt Nam từ tháng 11-2017. Trong chuyến đi, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự kiến hội kiến Toàn quyền Louise Arbour, hội đàm Thủ tướng Mark Carney và gặp lãnh đạo Quốc hội Canada.
Theo người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng, Canada đang ưu tiên năng lượng, khoáng sản chiến lược, trí tuệ nhân tạo và nông nghiệp công nghệ cao. Trong khi đó Việt Nam đang đẩy mạnh nâng cấp nền công nghiệp, phát triển kinh tế số và kinh tế xanh.
Một bên có vốn, công nghệ và tài nguyên; một bên có thị trường, năng lực sản xuất và vị trí kết nối ASEAN.
Nói như bà Phạm Thu Hằng, "những sự tương đồng về lợi ích và định hướng phát triển đang tạo ra những lợi thế để hai nước đưa quan hệ lên một tầm mức mới, cao hơn".
"Đối với Canada, đây là một chuyến thăm lịch sử. Chúng tôi chưa từng đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Việt Nam tới Canada trước đây, nên đây sẽ là chuyến thăm đầu tiên và bản thân điều đó đã là một cột mốc quan trọng trong quan hệ song phương", Đại sứ Canada tại Việt Nam Jim Nickel bày tỏ trong cuộc phỏng vấn ngày 18-9.
Theo ông Jim Nickel, Việt Nam và Canada chia sẻ nhiều giá trị chung và lợi ích chung trong các lĩnh vực ngoại giao, kinh tế, thương mại, đầu tư, giao lưu Nhân dân, trao đổi học thuật và phát triển bền vững.
"Đó đều là những lĩnh vực mà tôi tin rằng thông qua chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, chúng ta sẽ có cơ hội làm sâu sắc hợp tác và đưa quan hệ lên tầm cao mới", ông chia sẻ.
Bức tranh đối ngoại rộng hơn và tự chủ chiến lược



Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp lãnh đạo các nước Nga, Trung Quốc và Mỹ trong năm 2026. Từ trái qua: gặp Tổng thống Nga Vladimir Putin tháng 9; gặp Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình tháng 4; gặp Tổng thống Mỹ Donald Trump tháng 2 - Ảnh: NGUYỄN KHÁNH, TTXVN
Đặt chuyến Bắc Mỹ vào lịch trình hơn một tháng qua sẽ thấy nhịp độ đối ngoại cấp cao Việt Nam đang trải trên nhiều hướng cùng lúc. Từ 9 đến 14-8, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm Úc và New Zealand, trọng tâm khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục, chuỗi cung ứng và kinh tế xanh.
Đầu tháng 9, ông thăm Nga và Pháp, củng cố các trụ cột năng lượng, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Cùng thời gian, Thủ tướng Lê Minh Hưng dự Hội nghị thượng đỉnh BRICS lần thứ 18 tại New Delhi; Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn thăm Hàn Quốc và Mông Cổ; Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú thăm chính thức Singapore, đồng chủ trì Đối thoại chiến lược lần thứ nhất giữa hai Đảng cầm quyền.
Nhìn từ đầu năm 2026, đường nối các điểm đến càng rõ hơn. Tháng 2, Tổng Bí thư Tô Lâm thăm Lào, Campuchia, rồi tới Washington dự cuộc họp khai mạc Hội đồng Hòa bình Gaza và gặp Tổng thống Donald Trump. Tháng 4, ông thăm cấp Nhà nước Trung Quốc, làm nổi bật hợp tác đường sắt và hàng chục văn kiện.
Tháng 5, ông đến Ấn Độ, Sri Lanka, rồi chuỗi Thái Lan - Singapore (Đối thoại Shangri-La) - Philippines. Tháng 6, Thủ tướng Lê Minh Hưng dự Hội nghị ASEAN - Nga tại Kazan. Ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng đón nhiều đoàn lãnh đạo cấp cao các nước, mới đây nhất là Tổng thống Myanmar và Nhà vua cùng Hoàng hậu Thái Lan.
Theo người phát ngôn Phạm Thu Hằng, những hoạt động trên "có ý nghĩa quan trọng cả song phương và đa phương".
Bà Phạm Thu Hằng gọi đây là sự cụ thể hóa đường lối "rộng mở, độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế".
Sự đổi mới tư duy của Việt Nam trong triển khai hoạt động đối ngoại thể hiện rõ nhất qua Đại hội XIV, khi đối ngoại được xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Đối ngoại và hội nhập quốc tế phải tạo ra nguồn lực và năng lượng để phát triển đất nước và kiến tạo sức mạnh quốc gia.
Đồng thời đối ngoại phải thể hiện rõ nội hàm tự chủ chiến lược trong từng chuyến thăm, từng thỏa thuận; phải dự án hóa các thỏa thuận, cam kết thành những sản phẩm cụ thể, hiệu quả thiết thực cho cả Việt Nam và các đối tác.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại phiên khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 ngày 1-8 - Ảnh: NGUYỄN KHÁNH
Nếu nhìn vào nội dung các hoạt động từ đầu năm 2026, mục tiêu khá nhất quán: giữ ổn định với đối tác truyền thống; mở rộng hợp tác với các trung tâm kinh tế, công nghệ; tranh thủ diễn đàn đa phương để gia tăng tiếng nói; và không để Việt Nam bị khóa vào một lựa chọn chiến lược đơn tuyến.
Ngoài "tự cường", "tự chủ chiến lược" cũng nhiều lần được lãnh đạo Việt Nam nhắc đến trong các cuộc gặp với đối tác.
Tự chủ không phải khép mình, càng không phải đứng cách đều mọi đối tác. Đó là năng lực lựa chọn trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc, duy trì quan hệ rộng mở mà không phụ thuộc vào một thị trường, một nguồn vốn, một công nghệ hay một trung tâm quyền lực.
Theo cách nhìn của giáo sư Tiberghien, đó là chiến lược "phòng ngừa rủi ro" (hedging): không đặt hết trứng vào một rổ, liên tục mở phương án dự phòng và tạo mạng lưới lợi ích đan xen. Việt Nam tiếp xúc mọi nước lớn mà không liên minh chính thức với ai, cũng không tự khóa cửa với bên còn lại.
Tuy nhiên cách Việt Nam nói về chính sách ngoại giao của mình còn nhấn mạnh một điều sâu hơn: Việt Nam độc lập và tự chủ, quan hệ với nước này không trở thành rào cản cho quan hệ với nước khác.
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, Việt Nam đang giữ thế cân bằng chiến lược. Cân bằng không phải ở số lượng chuyến thăm, mà ở dư địa hợp tác, ở chỗ đôi bên cùng có lợi và không phương hại bên thứ ba. Đó cũng là cách Việt Nam, vì lý do chiến lược và lịch sử, chọn cách ứng phó bất định bằng "dĩ bất biến, ứng vạn biến".