Động lực chính của mô hình tăng trưởng mới
Phát biểu tại Diễn đàn kinh doanh 2026 với chủ đề “Tháo gỡ điểm nghẽn, đưa kinh tế số thành động lực tăng trưởng trong kỷ nguyên mới”, ông Bùi Trung Nghĩa, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho biết khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang được xác định là những động lực chính của mô hình tăng trưởng mới. Nghị quyết 57-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP.
Theo ông Nghĩa, Quyết định 1033/QĐ-TTg về Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026-2030 tiếp tục đặt mục tiêu xây dựng nền kinh tế dựa trên nền tảng số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo, qua đó nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng và phát triển bền vững.

Ông Bùi Trung Nghĩa, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
Số liệu được lãnh đạo VCCI dẫn từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP năm 2025 ước đạt 14,02%, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020. Kinh tế số Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng 2 con số trong nhiều năm và vươn lên đứng thứ hai Đông Nam Á. Trong đó, thương mại điện tử chiếm khoảng 2/3 quy mô nền kinh tế số.
Tuy nhiên, theo ông Nghĩa, điểm nghẽn lớn nằm ở khả năng tiếp cận nguồn lực của doanh nghiệp. Khoảng 98% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong khi nhiều doanh nghiệp còn gặp khó khăn về tín dụng.
“Hạn chế về nguồn lực tài chính khiến nhiều doanh nghiệp khó đầu tư máy móc, công nghệ, phần mềm quản trị, dữ liệu số, bảo mật, tự động hóa, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc và ứng dụng trí tuệ nhân tạo”, ông Nghĩa nói.
Ngành “ăn no vác nặng” cũng phải chuyển đổi số
Phát biểu tại diễn đàn, ông Ngô Sỹ Hoài - Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết, giống như dệt may, giày da, thủy sản tại Việt Nam, ngành gỗ đã trải qua một giai đoạn phát triển theo chiều rộng, theo kiểu “ăn no vác nặng”, làm rất nhiều nhưng hưởng chẳng được bao nhiêu.
Từ đầu năm nay, ngành công nghiệp gỗ cũng như các ngành khác như dệt may, giày da, thủy sản đều có tốc độ tăng trưởng giảm. Sự sụt giảm này có yếu tố từ bên ngoài, như thị trường Mỹ hay vấn đề thuế quan. Tuy nhiên, một yếu tố khác là tốc độ chuyển đổi số còn chậm. Cụ thể, việc ứng dụng và biến chuyển đổi số, công nghệ số thành hạ tầng vật chất để tạo động lực tăng trưởng vẫn còn hạn chế.

Ông Ngô Sỹ Hoài - Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam
“Bây giờ kinh tế số đã là câu chuyện tồn tại hay không tồn tại, sống hay là chết”, ông Hoài nhấn mạnh. Lý giải cho nhận định này, theo Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, đến nay ngành công nghiệp gỗ Việt Nam đã thâm nhập rất sâu vào thị trường toàn cầu. Sản phẩm gỗ đã có mặt tại 167 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Mỹ vẫn chiếm trên 50% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Tuy nhiên, dù làm nhiều nhưng phần chúng ta được hưởng, phần mà người Việt Nam đáng lẽ ra được hưởng, thì vẫn còn rất ít, rất hạn chế. Hầu hết doanh nghiệp vẫn có chút lợi nhuận nhưng không đáng bao nhiêu. Biên lợi nhuận của ngành dường như có xu hướng ngày càng thu hẹp.
Theo ông Hoài, trước đây, một doanh nghiệp gỗ có thể có biên lợi nhuận khoảng 10 - 15%. Song, biên lợi nhuận ngày càng có xu hướng thu hẹp. Khi thị trường có biến động, các doanh nghiệp phải cầm cự để hòa vốn, thậm chí chấp nhận thua lỗ để duy trì thị trường. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là ngành gỗ đã chuyển đổi số chậm.
Lâu nay, ngành gỗ cơ bản sản xuất theo mô hình OEM, tức gia công theo đơn hàng của khách hàng nước ngoài. Trong khi đó, những khâu như thiết kế, phân phối sản phẩm hay xây dựng thương hiệu mới là những phần chiếm giá trị cao trong chuỗi giá trị của sản phẩm gỗ.
“Như một cái ghế, nếu không làm được thiết kế thì có thể phải trả cho thiết kế bên ngoài 10 USD mỗi chiếc, trong khi giá bán chỉ khoảng 25 USD. Nếu không có kinh tế số, không có chuyển đổi số thì chắc chắn chúng ta không chuyển sang được ODM, tức là tự thiết kế”, ông Ngô Sỹ Hoài cho biết.
Biến dữ liệu, công nghệ thành năng suất và thị trường
Dưới góc nhìn của Hiệp hội doanh nghiệp địa phương, ông Nguyễn Hữu Thập, Ủy viên Ban Chấp hành VCCI, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tuyên Quang cho rằng, Việt Nam không thiếu khát vọng số, không thiếu công nghệ. Điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở thiết bị hay phần mềm mà ở cơ chế biến dữ liệu thành tư liệu sản xuất, công nghệ thành năng suất, sáng kiến thành thị trường và quyết tâm thành kết quả đo đếm được.
Theo ông Thập, chuyển đổi số chỉ có ý nghĩa khi khoảng cách địa lý không còn là khoảng cách cơ hội. Ông đề xuất cần khơi thông thể chế, kết nối dữ liệu, tiếp sức doanh nghiệp để quá trình chuyển đổi này thành công bằng năm việc làm ngay.

Ông Nguyễn Hữu Thập, Ủy viên Ban Chấp hành VCCI, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tuyên Quang
Một là, đưa thể chế đi trước một bước. Các bộ, ngành, địa phương cần rà soát, công khai những quy định đang cản trở dữ liệu, giao dịch điện tử, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây và mô hình kinh doanh mới; xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm, thời hạn xử lý.
Hai là, coi dữ liệu là hạ tầng thiết yếu và nguồn lực chiến lược của nền kinh tế số. Dữ liệu công phải được kết nối, chia sẻ, khai thác có kiểm soát theo nguyên tắc “một lần khai báo - nhiều lần sử dụng”.
Ba là, không để doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ tự bơi trong chuyển đổi số. Cần có “ trung tâm hỗ trợ chuyển đổi số”, tư vấn độc lập tại địa phương, danh mục giải pháp đã kiểm chứng và cơ chế đồng tài trợ theo kết quả.
Bốn là, Nhà nước tạo thị trường đầu tiên cho đổi mới sáng tạo. Đẩy mạnh đặt hàng, mua sắm công theo kết quả đầu ra, không khóa cứng công nghệ; công khai bài toán lớn của từng ngành, địa phương để các doanh nghiệp Việt Nam tham gia.
Năm là, thay thước đo “đã làm bao nhiêu” bằng “đã tạo ra giá trị gì”. Mỗi dự án số phải trả lời: Doanh nghiệp tiết kiệm bao nhiêu thời gian, chi phí; năng suất, doanh thu, thị trường tăng thế nào?