
Tọa đàm đi cùng một triển lãm song song, thuộc khuôn khổ Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026 đang diễn ra tại nhiều không gian văn hóa - di sản tiêu biểu của Hà Nội - Ảnh: ĐẬU DUNG
Cùng nhiều câu hỏi khác được giải mã trong tọa đàm Hướng về thành phố xa xưa: Hai thập niên Tân nhạc Hà Nội 1934 - 1954, có sự tham gia của nhà nghiên cứu Nguyễn Trương Quý, nhạc sĩ Giáng Son và TS Trần Ngọc Hiếu; diễn ra từ tối 12-9 tại Bảo tàng Hà Nội, Hà Nội.
Concert có từ bao giờ?
Khán giả ngày nay đã quá quen với việc thưởng thức âm nhạc tại các phòng trà, đại nhạc hội hoặc các concert lớn. Vậy các buổi biểu diễn âm nhạc độc lập ở Hà Nội có từ khi nào?
Nhà nghiên cứu Nguyễn Trương Quý cho biết thời kỳ đầu của tân nhạc, hình thức biểu diễn này vẫn chưa xuất hiện. Tân nhạc chuyển sang giai đoạn thực hành độc lập và chuyên nghiệp hơn khi hệ thống trang thiết bị âm thanh cùng dàn nhạc công dần hoàn thiện.
Đặc biệt thời tạm chiến 1948 - 1953 với sự xuất hiện ban Việt Nhạc của Đài phát thanh Hà Nội quy tụ nhiều nhạc sĩ, nhạc công tài ba từng có kinh nghiệm làm việc ở các quán bar, vũ trường hay sàn nhảy.
Cùng sự ra đời của các quán Tân Nghệ sĩ (khu vực Bờ Hồ) và các phòng trà Thiên Thai (phố Hàng Bông), Thăng Long (Hàng Gai)… trở thành những tụ điểm cà phê ca nhạc đầu tiên của trào lưu âm nhạc cải cách vào các tối thứ bảy, chủ nhật hằng tuần. Qua đó góp phần hình thành nên những trung tâm văn hóa âm nhạc sầm uất cho Hà Nội.
Âm nhạc thời kỳ này tiếp tục lan tỏa qua sóng Đài Phát thanh Hà Nội với sự đóng góp của các nhạc sĩ Trần Văn Nhơn, Nguyễn Thiện Tơ... Nhờ sự phát triển này, các ban nhạc đã có thể tổ chức được các chương trình biểu diễn kéo dài từ 30 phút đến 1 tiếng, thay vì chỉ diễn ngắn ngủi như trước.
Đến khoảng năm 1954, phong trào ca nhạc phát triển mạnh với điểm sáng là rạp Đại Đồng do nhạc sĩ Đoàn Chuẩn mua lại, trở thành nơi quy tụ hàng loạt tài danh ca hát như Ngọc Bảo, Minh Đỗ, Anh Tuấn, Thanh Hiếu, Thanh Hằng…

Nhà nghiên cứu Trương Quý - Ảnh: ĐẬU DUNG
Tân nhạc thời kỳ đầu đặt nền móng quan trọng
Nhạc sĩ Giáng Son đánh giá các nhạc sĩ thời kỳ đầu tiên này đã đặt nền móng quan trọng cho nền âm nhạc Việt Nam, đặc biệt là ca khúc Việt Nam.
Dù âm nhạc dân gian Việt Nam phát triển hoàn toàn khác so với cấu trúc âm nhạc cổ điển phương Tây, lại không qua trường lớp gì, nhưng các nhạc sĩ của chúng ta đã tự học thông qua băng đĩa và chủ động tiếp thu những kỹ thuật tinh hoa vào sáng tác. Đồng thời chuyển sang ghi nhạc trên hệ thống năm dòng kẻ thay vì chỉ dùng thang âm ngũ cung.
Theo chị, những sáng tác của Văn Cao, Lê Thương hay Đoàn Chuẩn tuy mang nỗi buồn của thời đại nhưng là nỗi buồn rất đẹp, buồn nhưng không bi lụy, không phải không có tương lai, mà vẫn đong đầy sự trông mong và hy vọng, để lại dấu ảnh hưởng sâu sắc đến thế hệ nhạc sĩ trẻ sau này.

Bức ảnh hiếm của vợ chồng nhạc sĩ Phạm Duy - Thái Hằng ở chiến khu Việt Bắc năm 1949. Phạm Duy là người khéo léo vận dụng các lối hát truyền thống để diễn tả những từ luyến láy phức tạp có dấu hỏi, ngã - Ảnh tư liệu: TRẦN VĂN LƯU
Dẫn Cùng nhau đi hồng binh của Đinh Nhu - được coi là một trong những bài tân nhạc sớm nhất với bốn câu nhạc lặp lại, Trương Quý nhận xét cấu trúc âm nhạc của tân nhạc thời kỳ đầu này khá đơn giản.
Sự phát triển của tân nhạc thời kỳ này chịu ảnh hưởng từ phong trào bài hát hành khúc phương Tây trên toàn thế giới, đặc biệt là bài La Marseillaise của Pháp.
Tại Việt Nam, thế hệ thanh niên trí thức ở Hà Nội đã nhanh chóng tiếp thu các tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái và mong muốn đưa tình tự dân tộc vào âm nhạc; tạo nên một dòng chảy các bài hát mang chủ đề thanh niên và lịch sử ra đời vào cuối thập niên 1930 và đầu thập niên 1940 với nhịp điệu mới, tiết tấu mạnh mẽ, gắn với hơi thở mới.
Dù đôi khi bị cho là "quá Tây", các nhạc sĩ vẫn thể hiện sự sáng tạo cởi mở, kết hợp hài hòa thang âm ngũ cung Việt Nam với âm nhạc phương Tây mà không gặp rào cản.

Nhạc sĩ Giáng Son - Ảnh: ĐẬU DUNG

TS Trần Ngọc Hiếu - Ảnh: ĐẬU DUNG
Trương Quý chỉ ra một điểm không phải ai cũng để ý: các bài hát tân nhạc thời kỳ đầu rất ít dấu hỏi, dấu ngã.
Tiếng Việt có 6 thanh điệu, việc kết hợp dấu hỏi và dấu ngã vào giai điệu là bài toán vô cùng nan giải. Các cụ đã chọn giải pháp viết lời rất ít dấu hỏi và dấu ngã. Các câu nhạc thời đó thường trôi chảy, êm ái, né tránh các nét giai điệu phải nhảy theo dấu hỏi hoặc ngã.
Trong đó bật lên Phạm Duy được đánh giá cao nhờ khéo léo vận dụng các lối hát truyền thống để diễn tả những từ luyến láy phức tạp có dấu hỏi, ngã.
"Sau khoảng hai thập kỷ tìm tòi và thử nghiệm, các nhạc sĩ tân nhạc đã từng bước trưởng thành và hoàn toàn làm chủ được kỹ thuật này. Ở giai đoạn sau, họ đã có thể đưa dấu hỏi và dấu ngã vào bài hát một cách vô cùng tự nhiên và tài tình, tiêu biểu như câu hát trong bài Hành quân xa: Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi", Trương Quý phân tích.
Ca sĩ Quỳnh Hoa - một trong những giọng ca nổi tiếng của Hà Nội trong thập niên 1990 - hát Chiếc lá cuối cùng của Đoàn Chuẩn - Từ Linh sau tọa đàm - Video: ĐẬU DUNG
Giới trẻ nhận diện bản sắc cá nhân
TS văn học Trần Ngọc Hiếu nhớ lại năm anh 16-17, xã hội bắt đầu chuyển mình. Giới trẻ thời kỳ đó gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm phương cách để nhận diện bản thân.
Thế hệ anh Hiếu (anh Hiếu sinh năm 1977 - PV) là lứa học sinh đầu tiên được tiếp cận chương trình sách giáo khoa đưa văn học lãng mạn công khai vào giảng dạy, giúp dòng văn học này thoát khỏi định ngữ phiến diện trước đó là "văn học của tầng lớp tư sản và tiểu tư sản mộng mơ, bi lụy, yếu đuối".

Triển lãm trong khuôn khổ sự kiện, thu hút sự quan tâm của nhiều người yêu nhạc - Ảnh: ĐẬU DUNG

Một thời tân nhạc Việt Nam có rất nhiều cô, từ Cô lái đò, Cô láng giềng, Cô hàng cà phê, Cô hàng hoa... - Ảnh: NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ cung cấp
Từ đây, người trẻ bắt đầu nhận diện chính mình thông qua văn chương lãng mạn và các ca khúc tiền chiến. Phong trào lãng mạn trong thơ ca và tân nhạc Việt Nam giai đoạn này mang lại một sức sống tươi mới của thế hệ mới. Họ không còn là gạch nối dài đơn thuần của thế hệ cha chú, mà có quyền cất lên tiếng nói khẳng định ý thức cá nhân và cá tính.
Theo Trần Ngọc Hiếu, điểm cốt lõi mà cái tôi lãng mạn mang lại chính là cảm xúc. Chủ nghĩa lãng mạn đã mở đường cho các trạng thái tâm tư vu vơ, mơ màng, ngẩn ngơ được giãi bày công khai mà không sợ bị coi là xấu hổ.
Những mô típ tình cảm trong Thơ duyên của Xuân Diệu hay bài hát Mơ hoa của Hoàng Giác đã trở thành ngôn ngữ tâm tình giúp lứa tuổi 16-17 nhận diện đúng chính mình.