Làng nghề 300 năm tuổi chật vật tìm chỗ đứng trong thời 4.0

Admin

20/02/2026 12:03

Giữa làn sóng công nghệ và đồ chơi công nghiệp tràn ngập, làng nghề tò he hơn 300 năm tuổi ở Xuân La, Hà Nội buộc phải tự “làm mới mình” để không bị bỏ lại phía sau trong nhịp sống thời 4.0.

Đã có lúc người thợ nặn tò he chỉ ngồi để… không quên nghề

Đã có một thời, những con tò he đi qua tuổi thơ của hầu hết trẻ em Việt Nam lặng lẽ, giản dị nhưng thân thuộc. Không cần pin, không cần màn hình, chỉ vài que tre, một nắm bột gạo và đôi bàn tay khéo léo của người thợ vậy mà đủ khiến đám trẻ đứng hàng giờ để chờ đợi một con giống được nặn ra ngay trước mắt mình.

Rồi cũng có một thời, tò he gần như biến mất khỏi đời sống. Không ồn ào, không đổ vỡ, chỉ âm thầm rút lui như thể chưa từng tồn tại. Khi điện thoại thông minh trở thành vật bất ly thân của trẻ nhỏ, khi trò chơi điện tử và thế giới ảo định hình một "tuổi thơ mới", những con giống nặn từ bột gạo bỗng trở nên lạc lõng.

Nghề nặn tò he, một nghề dân gian có lịch sử hơn 300 năm bước vào thời đại 4.0 trong thế yếu, không công nghệ, không dây chuyền, không sản xuất hàng loạt. Thứ duy nhất người thợ có trong tay là ký ức nghề, sự khéo léo và đôi bàn tay đã quen với bột gạo từ nhiều đời.

Ở làng Xuân La (Phú Xuyên, Hà Nội) đã có những năm gánh tò he vắng khách đến nao lòng. Người thợ vẫn ngồi đó, vẫn nặn, nhưng không hẳn để bán, mà để… không quên nghề.

Nhớ lại giai đoạn trầm lắng ấy, nghệ nhân Đặng Thường (phường tò he Đặng Thường) chậm rãi kể với Người Đưa Tin: "Khoảng năm 2003 -2025 nghề tò he của chúng tôi thực sự rơi vào giai đoạn rất khó khăn.

Làng nghề 300 năm tuổi chật vật tìm chỗ đứng trong thời 4.0 - Ảnh 1.

Nghệ nhân Đặng Thường giới thiệu nghệ thuật nặn tò he tại gian hàng Việt Nam ở Expo Nhật Bản 2025.

Đến năm 2008 - 2009 khi việc bán hàng rong bị siết chặt, chúng tôi không còn được bán ở cổng trường và các khu vui chơi. Lúc đó đồ chơi nhựa, nhất là đồ Trung Quốc tràn sang rất nhiều, bán khắp nơi mẫu mã thì phong phú, màu sắc bắt mắt giá lại rẻ.

Trong khi đó, tò he truyền thống quanh đi quẩn lại chỉ có vài mẫu cũ như 12 con giáp, Tôn Ngộ Không, hoa hồng, hoa sen. Mẫu mã ít, không đổi mới nên rất khó cạnh tranh".

Theo ông Thường, dù các nghệ nhân đã cố gắng mang tò he đi nhiều nơi để quảng bá từ trường học, lễ hội cho tới các triển lãm nhưng sự đón nhận của trẻ nhỏ không còn như trước.

"Có những buổi ngồi cả ngày, nặn ra nhiều con nhưng bán được rất ít. Nhìn ánh mắt các cháu là mình hiểu ngay, tò he không còn đủ sức hấp dẫn với các cháu nữa. Có lúc anh em trong nghề ngồi với nhau, cũng chạnh lòng, nghĩ rằng không biết nghề này rồi sẽ đi về đâu", ông chia sẻ.

Cũng trong những năm ấy, nhiều người ở làng tò he Xuân La buộc phải rời nghề để mưu sinh. Người đi hát chầu văn, người làm mộc, người chuyển sang nghề màn tuyn. Trước sức ép của kinh tế thị trường và sự bùng nổ của công nghệ, nghề thủ công truyền thống ngày càng khó giữ chân lớp trẻ.

Sinh ra trong gia đình bốn đời làm tò he, ông Đặng Thường hiểu rõ sự mong manh của nghề hơn ai hết. Từ những ngày còn nhỏ, hình ảnh người cha miệt mài nặn tò he đã in sâu trong ký ức. Chính hành trình gắn bó ấy giúp ông hiểu rằng, trong thời đại nhiều biến động giữ nghề không thể chỉ dựa vào tình yêu mà còn đòi hỏi khả năng thích nghi để nghề có thể tiếp tục tồn tại.

"Tò he vốn rất giản dị mà cũng rất mong manh. Chỉ cần thị hiếu thay đổi là nghề chao đảo ngay. Ngày xưa, trẻ con chỉ cần thấy mình nặn con trâu, con gà là đã thích lắm rồi. Nhưng bây giờ thì khác.

Các cháu quen với hình ảnh động, với nhân vật hoạt hình, siêu nhân, công chúa… Nếu mình cứ giữ nguyên cách làm cũ thì khó mà tồn tại", ông Thường thẳng thắn.

Làng nghề 300 năm tuổi chật vật tìm chỗ đứng trong thời 4.0 - Ảnh 2.

Trẻ em vây quanh sạp tò he, chăm chú theo dõi từng động tác tạo hình của người thợ.

Ông kể có thời điểm ông từng nghĩ đến việc dừng lại. "Không phải là không yêu nghề, mà là lo. Lo mình cố giữ nhưng không ai cần nữa thì rồi cũng không đi đến đâu. Lúc đó hoặc là thay đổi để sống tiếp, hoặc là chấp nhận nghề mai một", ông nói.

Không chấp nhận khoanh tay nhìn nghề biến mất, những nghệ nhân gắn bó với tò he đã buộc phải học cách thích nghi. Những con tò he hôm nay mang hình hài khác trước, bên cạnh Tôn Ngộ Không, Thánh Gióng là siêu nhân, công chúa Disney, chuột lang nước Capybara,.... những nhân vật quen thuộc với trẻ em thời đại số.

"Có người bảo như thế là mất bản sắc, nhưng với chúng tôi đó là cách để nghề tồn tại. Mình giữ cái hồn của tò he, giữ kỹ thuật nặn, giữ tinh thần của nghề còn hình thức thì phải thay đổi cho phù hợp với thời đại", ông Thường nói.

Giữa một góc phố đông người, đôi tay ông Đặng Thường vẫn miệt mài nặn từng con giống. Không loa phóng thanh, không lời mời chào nhưng trẻ em vẫn tự tìm đến, vây quanh mắt dõi theo từng cử động. Có em đứng rất lâu, chăm chú nhìn cục bột vô tri dần biến thành một hình hài nhỏ bé, có mặt, có dáng, có cả thần thái.

Em Thuỳ Tiên (7 tuổi) nói rành rọt: "Con thích nhìn chú làm tò he vì mỗi con giống như có phép màu. Chỉ từ một cục bột nhỏ, chú có thể nặn ra con rồng, con mèo, cả những nhân vật hoạt hình con xem trên tivi. Con thấy rất vui vì được đứng xem, được tự tay nặn, được cười và mang về một món đồ do chính tay mình làm ra".

Đến lúc tò he phải "thay áo"

Theo ông Thường, để nghề tò he có thể tồn tại và thích ứng với đời sống đương đại, bản thân người thợ buộc phải có những điều chỉnh nhất định về nguyên liệu, phù hợp với nhu cầu sử dụng và độ bền của từng dòng sản phẩm.

Thông thường, phần lớn các nghệ nhân vẫn làm tò he theo phương pháp truyền thống từ bột gạo nếp. 

Tuy nhiên, với những sản phẩm phục vụ trưng bày cần thời gian bảo quản dài, người thợ chủ động bổ sung thêm một số loại bột khác để tăng độ bền. Màu sắc cũng được cải tiến bằng việc sử dụng màu thực phẩm an toàn, giúp con giống giữ được độ tươi lâu hơn, phù hợp với yêu cầu trưng bày và triển lãm.

"Tôi không giữ nghề theo cách cứng nhắc. Điều cần giữ là tinh thần của nghề, là đôi tay, là kỹ thuật và sự tỉ mỉ. Nếu không thay đổi, nghề sẽ tự đào thải chính mình", ông Thường chia sẻ.

Làng nghề 300 năm tuổi chật vật tìm chỗ đứng trong thời 4.0 - Ảnh 3.

Nghệ nhân Đặng Thường trình diễn nặn tò he tại Hội chợ Mùa thu 2025.

Không dừng lại ở đồ chơi, những năm gần đây ông Thường dành nhiều tâm huyết để tạo ra các mô hình tiểu cảnh mang đậm không gian văn hóa Bắc Bộ như sân vườn, mâm bồng, đầu lân – sư – rồng, chậu cây, chậu hoa… Có mô hình mất từ 5 ngày đến cả tuần mới hoàn thiện.

"Làm những mô hình này rất mất công nhưng bù lại nó giúp tò he bước ra khỏi khuôn khổ một món đồ chơi trẻ em, trở thành một sản phẩm văn hóa", ông chia sẻ.

Cùng với thay đổi mẫu mã, nhiều nghệ nhân ở Phượng Dực đã mạnh dạn thay đổi phương thức kinh doanh, đưa tò he lên các sàn thương mại điện tử, mạng xã hội, hợp tác với trung tâm thương mại.

"Chúng tôi không thể ngồi chờ khách tìm đến làng. Phải đưa tò he ra ngoài, đưa lên mạng, đưa đến những không gian mới", ông Thường nói. Nhờ đó, sản phẩm không còn bó hẹp trong không gian làng quê mà đến với khách hàng trên khắp cả nước, thậm chí ra nước ngoài.

Những buổi livestream nặn tò he trên TikTok, Facebook thu hút hàng trăm nghìn lượt xem. Việc chứng kiến trực tiếp quá trình tạo hình khiến nhiều người coi đây là một trải nghiệm văn hóa sống động, khác biệt so với những sản phẩm công nghiệp.

"Bạn bè quốc tế rất thích. Họ trầm trồ từng chi tiết nhỏ, hỏi rất nhiều về chất liệu, về ý nghĩa văn hóa của tò he", ông Thường cho hay.

Theo các nghệ nhân, nếu được hỗ trợ bài bản hơn về bao bì, thương hiệu, chứng nhận chất lượng, tò he hoàn toàn có thể trở thành sản phẩm văn hóa xuất khẩu.

Tại Phượng Dực, chuyển đổi số đang dần trở thành động lực phát triển kinh tế làng nghề. Lãnh đạo địa phương cho biết việc tổ chức các lớp tập huấn theo lộ trình từ kỹ năng số cơ bản đến xây dựng thương hiệu và phân tích dữ liệu bán hàng nhằm giúp người dân mở rộng thị trường theo hướng bền vững.

"Chúng tôi xác định chuyển đổi số không phải là thay thế nghề truyền thống mà còn là công cụ để giữ nghề.

Khi người thợ biết giới thiệu sản phẩm trên môi trường số, hiểu khách hàng cần gì và bán được hàng ổn định hơn thì làng nghề mới có thể tồn tại lâu dài và thu hút thế hệ trẻ tiếp nối", ông Nguyễn Trọng Vĩnh - Chủ tịch UBND xã Phượng Dực nhấn mạnh.

Tuy nhiên, bên cạnh câu chuyện mở rộng thị trường và thích ứng với công nghệ, sự sống còn của nghề tò he vẫn phụ thuộc vào một yếu tố căn cốt hơn đó là có còn người đủ kiên nhẫn và đam mê để ngồi lại với nghề hay không.

Bởi dù công nghệ có hỗ trợ đến đâu nếu không có lớp người kế cận, nghề truyền thống vẫn đứng trước nguy cơ đứt gãy.

Làng nghề 300 năm tuổi chật vật tìm chỗ đứng trong thời 4.0 - Ảnh 4.

Ông Đặng Thường (áo đỏ) cùng con trai là Tùng (áo xanh) trình diễn nặn tò he, tiếp nối nghề qua các thế hệ.

Chính vì vậy, trăn trở lớn nhất của những người thợ tò he vẫn là truyền nghề. Truyền nghề không chỉ là dạy cách nặn, mà là truyền lại sự kiên nhẫn, tinh thần sáng tạo và khả năng thích nghi những yếu tố quyết định sự sống còn của nghề trong thời đại mới.

May mắn thay, con trai ông Thường đã chọn tiếp bước cha ông. Từ năm 5 tuổi cậu đã theo nghệ nhân Đặng Thường đi các triển lãm trong nước, với thế hệ trẻ ấy tò he vừa là ký ức, vừa là một nghề cần tiếp tục được làm mới.

“Niềm yêu thích với tò he đến với mình rất tự nhiên. Hồi nhỏ mình chưa hiểu tò he là nghề gì, chỉ thấy ông bà, bố mẹ nặn thì mình nặn theo. Ngày ấy tay còn cứng lắm, nặn mãi không ra hình, có khi cả ngày mới xong một con mà xấu ơi là xấu”, Tùng cười nói.

Theo Tùng, để có thể nặn được những con giống tinh xảo như hiện nay là cả một quá trình rèn luyện bền bỉ. “Mình phải luyện nhiều năm, tập từ những chi tiết đơn giản nhất. Có lúc nản vì làm chậm hơn người lớn, nhưng càng làm lại càng thấy thích, càng muốn nặn cho đẹp hơn”, Tùng kể.

Không chỉ dừng lại ở việc giữ nghề trong gia đình, Tùng còn nuôi dưỡng ước mơ đưa tò he Xuân La đến với nhiều người hơn.

“Mình mong trong thời gian tới có thể đi lưu diễn, giới thiệu tò he ở nhiều nơi hơn nữa để mọi người biết đến sản phẩm của làng nghề Xuân La và phường tò he Đặng Thường”, Tùng chia sẻ.

Tham khảo thêm
Tham khảo thêm
Chủ tịch Hà Nội dạo bộ, mua tò he, chụp ảnh cùng du kháchLàng nghề 300 năm tuổi chật vật tìm chỗ đứng trong thời 4.0 - Ảnh 6.

Bạn đang đọc bài viết "Làng nghề 300 năm tuổi chật vật tìm chỗ đứng trong thời 4.0" tại chuyên mục Văn hóa. Mọi bài vở cộng tác xin gửi về địa chỉ email ([email protected]).