Tất cả người lao động nghỉ việc trong năm nay cần biết điều này nếu không muốn bỏ lỡ khoản tiền, quyền lợi thuộc về mình

Admin

22/09/2026 21:00

Theo BHXH Việt Nam, khi chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động cần lưu ý các quyền lợi liên quan đến BHXH, BHTN như báo giảm, xác nhận thời gian đóng, thông tin sổ BHXH và trợ cấp thất nghiệp. Nắm rõ những quy định này giúp người lao động chủ động theo dõi, thực hiện các thủ tục cần thiết và bảo đảm quyền lợi của mình.

 - Ảnh 1.

Người lao động sẽ được hoàn trả tiền phép năm nếu thuộc trường hợp sau

Việc thanh toán tiền nghỉ phép năm, người lao động và người sử dụng lao động có thể tham khảo nội dung tại Công văn 514/ATLĐ-CSBHLĐ năm 2021 thanh toán ngày nghỉ hằng năm do Cục An toàn lao động ban hành.

Cụ thể, khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019 quy định: "Trường hợp do thôi việc, bị mất việc làm mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ".

Bên cạnh đó, tại khoản 1 Điều 4 Bộ luật Lao động 2019 quy định "…khuyến khích những thỏa thuận bảo đảm cho người lao động có điều kiện thuận lợi hơn so với quy định của pháp luật về lao động".

Vì vậy, đối với trường hợp người lao động chưa nghỉ phép năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm mà không thuộc các trường hợp được nêu tại khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019, nếu người sử dụng lao động thỏa thuận thanh toán tiền lương cho những ngày nghỉ phép năm chưa nghỉ trong những trường hợp này theo hướng có lợi hơn cho người lao động được khuyến khích theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Bộ luật Lao động 2019.

 - Ảnh 2.

Những điều cần lưu ý khi người lao động nghỉ việc. Ảnh: BHXH Việt Nam

Tiền lương cho những ngày làm việc chưa được thanh toán

Đây là khoản tiền mà mọi người lao động khi nghỉ việc đều được nhận, nếu tại thời điểm nghỉ việc doanh nghiệp vẫn chưa thanh toán tiền lương cho những ngày họ đã làm việc.

Theo Điều 48 Bộ Luật Lao động năm 2019 trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền liên quan đến quyền lợi của người lao động (trong đó có tiền lương).

Hạn thanh toán này có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày trong các trường hợp đặc biệt như: Doanh nghiệp chấm dứt hoạt động; thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế; chia, tách, hợp nhất,…

Trợ cấp thất nghiệp

Khác với các khoản tiền nói trên, tiền trợ cấp thất nghiệp sẽ do Quỹ Bảo hiểm xã hội chi trả, chứ không phải người sử dụng lao động. Tuy nhiên để được hưởng khoản tiền này, người lao động cần đáp ứng các điều kiện sau:

– Đã chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

– Đã đóng Bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với hợp đồng lao động.

– Đã đăng ký thất nghiệp và nộp hồ sơ hưởng trợ cấp tại Trung tâm dịch vụ việc làm.

– Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng Bảo hiểm thất nghiệp.

Mức hưởng hàng tháng = Bình quân tiền lương tháng đóng Bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp x 60%

Trong đó: Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng Bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 – 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp nhưng tối đa không quá 12 tháng.

Trợ cấp mất việc làm

Theo Điều 47 Bộ Luật Lao động năm 2019, người lao động nghỉ việc được trả trợ cấp mất việc làm khi có đủ các điều kiện:

– Nghỉ việc do chấm dứt hợp đồng lao động theo trường hợp người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.

– Đã làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên.

Như vậy, nếu đáp ứng điều kiện, người lao động sẽ được người sử dụng lao động thanh toán trợ cấp mất việc làm cho mỗi năm làm việc bằng 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương. Cụ thể:

Trợ cấp mất việc làm = Thời gian làm việc tính hưởng trợ cấp x Tiền lương tháng tính hưởng trợ cấp

Trong đó:

Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian đã làm việc thực tế trừ đi thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.

Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân của 6 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động mất việc làm.