Người này thuộc trường hợp không được cấp giấy phép lao động cũng như miễn giấy phép lao động, mỗi lần trước khi sang Việt Nam, công ty chỉ thông báo tới Sở Nội vụ về việc người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam.
Tuy không ở Việt Nam toàn bộ thời gian nhưng người này vẫn điều hành và quản lý công việc trực tiếp từ xa (có ký giấy tờ và các loại chứng từ giao dịch). Bà Hương hỏi, người này có được phép ký hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động của Việt Nam không?
Về vấn đề này, Bộ Nội vụ trả lời như sau:
Điểm a khoản 13 Điều 7 Nghị định số 219/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam quy định trường hợp người lao động nước ngoài là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật "vào Việt Nam làm việc có tổng thời gian dưới 90 ngày trong 01 năm, tính từ 01 tháng 01 đến ngày cuối cùng của năm" không thuộc diện cấp giấy phép lao động.
Khoản 4 Điều 9 Nghị định số 219/2025/NĐ-CP quy định: "trường hợp quy định tại các khoản 4, 5, 6 và 8 Điều 154 của Bộ luật Lao động, quy định tại các khoản 2, 3, 5, 8, 10 và điểm a khoản 13 Điều 7 Nghị định này không phải làm thủ tục cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động nhưng phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động nơi người lao động nước ngoài dự kiến làm việc trước ít nhất 3 ngày làm việc, kể từ ngày người lao động nước ngoài dự kiến bắt đầu làm việc tại Việt Nam".
Trường hợp người nước ngoài (cụ thể là Tổng Giám đốc – thành viên Hội đồng thành viên không cư trú tại Việt Nam) sang Việt Nam làm việc có tổng thời gian dưới 90 ngày trong 1 năm, tính từ 1 tháng 1 đến ngày cuối cùng của năm không phải thực hiện thủ tục cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động mà thông báo với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động nơi người lao động nước ngoài dự kiến làm việc trước ít nhất 3 ngày làm việc, kể từ ngày người lao động nước ngoài dự kiến bắt đầu làm việc tại Việt Nam.
Về thẩm quyền giao kết hợp đồng lao động, khoản 3 Điều 18 của Bộ luật Lao động năm 2019 quy định người giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động là người thuộc một trong các trường hợp sau đây:
"a) Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật;
b) Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật;
c) Người đại diện của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật;
d) Cá nhân trực tiếp sử dụng lao động".
Đề nghị doanh nghiệp căn cứ vào các quy định nêu trên và Điều lệ tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp để xác định người có thẩm quyền giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động.