Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số thể hiện khát vọng phát triển của đất nước, trong đó có TP.HCM. Nhưng với TP.HCM, tăng trưởng nhanh còn phải gắn với khẳng định vai trò đầu tàu về đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế tư nhân và nâng cao năng suất của toàn nền kinh tế.
Muốn kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực tăng trưởng hai con số, điều quan trọng là tạo ra môi trường để doanh nghiệp có động lực, có năng lực và có khả năng sinh lời từ việc đầu tư vào sản xuất, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những hoạt động tạo ra giá trị gia tăng cao.


Ông Nguyễn Đình Cung - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Chủ trương phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao là cần thiết nhưng có sự khác biệt căn bản giữa hai con đường phát triển.
Con đường thứ nhất dựa chủ yếu vào việc huy động thêm vốn, sử dụng thêm lao động, mở rộng xây dựng, gia tăng sử dụng đất đai và các nguồn lực sẵn có khác.
Con đường thứ hai dựa vào nâng cao năng suất, đổi mới công nghệ, cải tiến quản trị, phát triển nguồn nhân lực, tăng năng lực cạnh tranh và mở rộng khả năng tạo ra giá trị gia tăng trong nước.
Trong thực tế, hai con đường không loại trừ nhau. Đầu tư hạ tầng, phát triển đô thị và mở rộng năng lực sản xuất đều cần thiết. Vấn đề là đầu tư mới có thực sự làm tăng năng lực sản xuất, giảm chi phí cho nền kinh tế và thúc đẩy năng suất hay không.
Vì vậy, không nên đánh giá thành công chỉ bằng tốc độ tăng GRDP, tổng vốn đầu tư, số dự án được khởi công hay tỉ lệ giải ngân. Cần đánh giá thêm hiệu quả sử dụng vốn, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), năng suất lao động, năng lực công nghệ, giá trị gia tăng nội địa, khả năng tham gia chuỗi giá trị và mức độ cải thiện thu nhập thực chất của người dân.

Thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, TP.HCM phải là đầu tàu thông qua cụ thể hóa tinh thần kinh tế tư nhân đóng góp gì trong mô hình tăng trưởng mới của đô thị này.

Trước hết, khu vực tư nhân phải là lực lượng chủ yếu biến cơ hội thị trường thành năng lực sản xuất, sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao.
Thứ hai, kinh tế tư nhân phải trở thành lực lượng thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất. Các doanh nghiệp thuộc nhiều ngành nghề khác cũng có thể tạo ra bước nhảy vọt về năng suất thông qua tự động hóa, số hóa, cải tiến quản trị và phát triển sản phẩm mới.
Thứ ba, doanh nghiệp tư nhân trong nước cần nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ tư, kinh tế tư nhân phải là lực lượng sử dụng vốn và tài sản xã hội hiệu quả hơn. Cần tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng, trong đó nguồn lực đến với doanh nghiệp có phương án kinh doanh tốt, có khả năng đổi mới và tạo ra giá trị, thay vì đến với doanh nghiệp có lợi thế tiếp cận đất đai, tín dụng hoặc các quyết định hành chính.
Cuối cùng, phải hình thành được một hệ sinh thái doanh nghiệp đa dạng: doanh nghiệp lớn có năng lực đầu tư dài hạn, phát triển công nghệ và dẫn dắt chuỗi cung ứng; doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng chuyên môn hóa, cung cấp sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao; doanh nghiệp khởi nghiệp có điều kiện thử nghiệm những mô hình kinh doanh mới.



Sản xuất drone phục vụ xuất khẩu - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Một trong những nghịch lý của nền kinh tế là doanh nghiệp thường được khuyến khích đầu tư nhiều hơn, trong khi những điều kiện quyết định hiệu quả đầu tư lại chưa được cải thiện tương xứng. Cần phải vượt qua những rào cản dưới đây:
Thứ nhất, chi phí và sự bất định của môi trường kinh doanh vẫn làm suy giảm động lực đầu tư dài hạn.
Thứ hai, khả năng tiếp cận nguồn lực chưa thực sự dựa trên hiệu quả kinh tế.
Thứ ba, năng lực công nghệ và quản trị của nhiều doanh nghiệp trong nước còn hạn chế.
Thứ tư, liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp FDI, viện nghiên cứu và các cơ sở đào tạo còn chưa đủ sâu.
Thứ năm, tư duy điều hành đôi khi vẫn thiên về tháo gỡ dự án và thúc đẩy giải ngân hơn là cải thiện chất lượng phân bổ nguồn lực.




Nếu có chính sách tốt, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc nhiều lĩnh vực của nền kinh tế cũng có thể ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số... để gia tăng giá trị sản phẩm - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Thành phố không thiếu các nghị quyết, chương trình hay mục tiêu phát triển. Điều cần thiết lúc này là chuyển từ tư duy ban hành thêm định hướng sang tổ chức thực thi có trọng tâm, có người chịu trách nhiệm, có thời hạn và có tiêu chí đánh giá kết quả.
1. Chuyển từ quản lý thủ tục sang quản trị kết quả và mức độ bất định của môi trường kinh doanhThành phố cần thiết lập một cơ chế theo dõi thường xuyên những rào cản thực tế mà doanh nghiệp gặp phải, từ khi chuẩn bị đầu tư đến khi dự án vận hành. Mỗi vướng mắc cần được phân loại rõ: thuộc thẩm quyền của thành phố, cần phối hợp liên cơ quan hay vượt thẩm quyền địa phương.
Cần phân biệt rõ sai sót thiện chí trong quá trình thực thi nhiệm vụ với hành vi vụ lợi, cố ý làm trái. Cán bộ phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình, nhưng không thể xây dựng một nền hành chính phát triển nếu tâm lý sợ trách nhiệm khiến những việc có thể giải quyết theo pháp luật đều bị trì hoãn.
2. Biến đầu tư công và phát triển đô thị thành đòn bẩy nâng cao năng suất của khu vực tư nhânĐầu tư công có vai trò đặc biệt quan trọng, nhưng hiệu quả không chỉ nằm ở số vốn giải ngân. Vì vậy, trước khi ưu tiên hoặc mở rộng các dự án quy mô lớn, thành phố cần đánh giá rõ hiệu quả kinh tế - xã hội, khả năng bổ trợ cho đầu tư tư nhân, nhu cầu thực tế, chi phí vận hành và nghĩa vụ tài chính dài hạn.

Thành phố cần tận dụng Luật Phát triển đô thị để gắn quy hoạch không gian với quy hoạch hạ tầng, giao thông, nhà ở, các trung tâm việc làm, khu công nghệ cao và mạng lưới dịch vụ hỗ trợ sản xuất.
3. Cải cách cách thức phân bổ nguồn lực, chuyển từ ưu tiên tài sản sang năng lực tạo giá trịThành phố cần rà soát các cơ chế hỗ trợ đầu tư để bảo đảm doanh nghiệp được tiếp cận cơ hội dựa trên năng lực, hiệu quả và đóng góp phát triển, không phải chỉ dựa vào quy mô vốn hoặc khả năng sở hữu tài sản.
Với đất đai và mặt bằng sản xuất, cần công khai quỹ đất, điều kiện tiếp cận, tiến độ chuẩn bị hạ tầng và tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư.
Về tài chính, thành phố nên phối hợp với các tổ chức tín dụng, quỹ đầu tư và định chế tài chính phát triển những cơ chế chia sẻ rủi ro cho các dự án có khả năng đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và phát triển chuỗi cung ứng.
4. Xây dựng chương trình nâng cấp doanh nghiệp tư nhân tham gia chuỗi giá trị toàn cầuThành phố nên lựa chọn một số ngành có lợi thế và khả năng phát triển mạng lưới cung ứng, chẳng hạn cơ khí chính xác, điện tử, dược phẩm, chế biến thực phẩm, logistics, phần mềm và dịch vụ kỹ thuật.
Thay vì chỉ tổ chức hội nghị kết nối cung cầu, thành phố cần xây dựng chương trình kết nối có mục tiêu và kết quả kiểm chứng được giữa doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp đầu chuỗi, nhà cung cấp trong nước, trường đại học và viện nghiên cứu.
5. Tạo điều kiện để doanh nghiệp vừa và nhỏ lớn lên, thay vì chỉ hỗ trợ họ tồn tại, thành phố cần giảm các chi phí cố định cho doanh nghiệp nhỏVới doanh nghiệp có tiềm năng tăng trưởng, cần hỗ trợ họ nâng cấp quản trị, chuẩn hóa báo cáo tài chính, xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường... Mục tiêu tạo điều kiện để doanh nghiệp chuyển từ quy mô nhỏ sang quy mô lớn hơn bằng năng lực cạnh tranh.
6. Thiết lập cơ chế đánh giá tăng trưởng theo chất lượng và công khai kết quả thực hiệnThành phố cần bổ sung một bảng chỉ tiêu theo dõi chất lượng tăng trưởng bên cạnh các chỉ tiêu GRDP, thu ngân sách và vốn đầu tư. Bảng chỉ tiêu cần được công bố định kỳ, có cơ quan chịu trách nhiệm và có giải trình khi kết quả không đạt mục tiêu.
